Chào mừng quý vị đến với website của Trường THCS Nguyễn Trãi

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > Bài viết > Giới thiệu chung >

DANH LAM THẮNG CẢNH Ở CHÂU ĐỐC

Tây An Cổ Tự

 

Từ Châu Đốc đi vào núi Sam đến ngã ba Đầu Bờ ta thấy một ngôi chùa sừng sững hiện ra bên chân núi, đó là Tây An tự. Ngôi chùa nguy nga với ba ngôi lầu nóc tròn hình củ hành theo kiểu kiến trúc Ấn Hồi, màu sắc sặc sỡ nhưng hài hòa, đẹp mắt, nổi bật trên vách núi xanh thẫm. Ngôi giữa là chánh điện thờ Phật, hai bên là lầu chuông và lầu trống. Chùa tọa lạc trên thềm cao thoáng rộng. Đi qua một công viên nhỏ, bước lên bậc thềm ta gặp ngay tượng người mẹ bồng con miêu tả tích xưa Quan âm Thị Kính. Trước sân chùa có hai con voi bằng xi-măng lớn như voi thật, con trắng sáu ngà, con đen hai ngà. Đông lang ở phía phải là chùa Địa Tạng thờ Địa Tạng Vương bồ tát theo kinh Địa Tạng. Tây lang là nhà khói rộng rãi trên nền đất cao, phía trước đặt hai tượng Quan âm. Bước lên bậc thềm cao vào chùa, các tượng Phật, Bồ tát, thánh tiên… được sơn thếp mỹ thuật, mỗi người mỗi vẻ, thờ kính trang nghiêm. Không khí yên tĩnh, khói hương nghi ngút. Ở chánh điện thờ Phật theo dòng thiền Lâm tế, ngoài tượng Phật Thích Ca rất lớn ở giữa, còn có các tượng: Di Đà, Quan Âm, Tam Thế Phật, Đại Thế Chí… và các vị Bồ tát. Hai bên về phía trước là các vị La hán, Bát bộ kim cang, Tam hoàng ngũ đế… Phía sau thờ các vị sư trụ trì chùa Tây An, tượng tạc bằng gỗ uy nghiêm, hiền triết. Đặc biệt, tượng Hòa thượng Thích Bửu Thọ, người có công lớn trong việc trùng tu chùa, được tạc sinh động như người thật, tay cầm gậy, ngồi bên bàn viết, cốt cách siêu phàm. Riêng Pháp Tạng thiền sư, người khai sáng giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương, được dân trong vùng tôn xưng là Phật thầy Tây An, không để lại hình ảnh. Ông tên thật là Đoàn Minh Huyên, sinh năm Đinh Mão (1807), quê quán làng Tòng Sơn, Sa Đéc, xưa thuộc trấn Vĩnh Thanh, nay là tỉnh Đồng Tháp. Là một chí sĩ yêu nước, có tinh thần cách mạng, bất mãn triều đình phong kiến, thường ra tay cứu độ dân lành nên bị quân lính nghi là gian đạo sĩ. Ông đến chùa Tây An trong thời kỳ Thiền sư Hải Tịnh Nguyễn Văn Giác trụ trì (đời thứ nhất) và được ngài Hải Tịnh thu nhận. Mặc dù mất sớm, nhưng đức Phật thầy Tây An đã làm được rất nhiều việc như chu du vùng Bảy Núi thành lập nhiều trại ruộng để khẩn hoang sản xuất và trở thành căn cứ chống quân Pháp xâm lược. Quản cơ Trần Văn Thành, một đại đệ tử của ông đã khởi nghĩa ở Láng Linh, hùng cứ Bảy Thưa một thời làm giặc Pháp khiếp sợ. Ngoài ra, ông còn nhiều đệ tử nổi tiếng khác như: Ông Tăng Chủ, ông Đình Tây, Đạo Xuyến, Đạo Ngoạn, Đạo Lập… Phật thầy Tây An viên tịch ngày 12 tháng 8 năm 1856, thọ 50 tuổi. Ông đến chùa Tây An sau ngày Hải Tịnh (1788 – 1875) và viên tích trước nhưng đã có công hoằng hóa rất lớn. Ông đã dặn dò đệ tử là sau khi mất chôn xác không được đắp nấm. Nhưng để gìn giữ ngôi mộ và để người đời sau dễ dàng chiêm bái, các đệ tử xây vòng rào và lập một miếu thờ khang trang. Ngôi mộ nằm phía sau chùa, chếch lên triền núi, dưới tàn cây râm mát. Bên hông chùa là dãy bảo tháp của các vị sư trụ trì được xây dựng tôn nghiêm, cổ kính. Theo tài liệu truyền lại, các vị sư trụ trì chùa Tây An theo thứ tự là: Hải Tịnh (Nguyễn Văn Giác), Hoàng Ân (Nguyễn Nhứt Thừa), Huệ Quang (Nguyễn Trang Nghiêm), Thuần Hậu (Huỳnh Văn Đắc), Thiện Pháp (Ngô Văn Hòa), Thích Bửu Thọ (Nguyễn Thế Mật), Huệ Châu (Hồ Thạch Hùng), Định Long (Phạm Văn Trực), Huệ Kỉnh (Trần Văn Cung). Các vị trụ trì đời sau cũng noi theo truyền thống yêu nước của Phật thầy Tây An nuôi chứa, giúp đỡ nhiều cán bộ Cách mạng hoạt động trong thời kỳ chống Mỹ. Hòa thượng Thích Bửu Thọ được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Chùa Tây An do Tổng đốc An Hà Doãn Uẩn (tên thật là Doãn Ôn) xây dựng năm 1847. Qua nhiều đợt trùng tu, chùa trở thành một kiến trúc độc đáo của khu vực núi Sam, đã được Bộ Văn Hóa xếp hạng.

 

 

 

 

Miếu Bà Chúa Xứ

 

Miếu Bà Chúa xứ là một di tích nổi tiếng ở Núi Sam, hàng năm thu hút gần 2 triệu lược người đến cúng bái, tham quan. Khách hành hương, du lịch không những đến từ các tỉnh lân cận mà còn từ các tỉnh xa như miền Đông, miền Trung… tạo nên một mùa lễ hội sôi nổi, đông đảo ở núi Sam suốt nhiều tháng.

Miếu Bà có từ bao giờ? Đến nay chưa có sử liệu nào ghi lại một cách chính xác. Trong dân gian tương truyền rằng: Cách đây gần 200 năm, núi Sam còn hoang vu, cây cối rậm rạp, nhiều thú dữ, dân cư thưa thớt, giặc biên giới thường sang khuấy nhiễu.

Một hôm, có một toán giặc Xiêm leo lên núi Sam phát hiện được pho tượng cổ bằng đá rất đẹp. Động lòng tham, chúng xeo nại, tìm cách khiêng đi nhưng không thể nào xê dịch được. Sau hàng giờ vất vả với pho tượng, chúng tức giận đập phá làm gãy cánh tay trái pho tượng.

Sau khi chúng bỏ đi, trong làng có một bé gái đang đùa giỡn bỗng dưng ngồi lại, mặt đỏ bừng, đầu lắc lư, tự xưng là Chúa xứ thánh mẫu, nói với các bô lão: “T ượng bà đang ngự trên núi, bị giặc Xiêm phá hại, dân làng hãy đ ưa Bà xuống”. Dân làng kéo nhau lên núi, quả thật t ượng Bà đang ngự gần trên đỉnh. Họ xúm nhau khiêng t ượng xuống làng nhằm mục đích để gìn giữ và phụng thờ. Bao nhiêu tráng đinh lực điền đ ược huy động, các lão làng tính kế để đ ưa t ượng đi, nh ưng không làm sao nhấc lên đ ược dù pho t ượng không phải là quá lớn, quá nặng.

Các cụ bàn nhau chắc là ch ưa trúng ý Bà nên cử ng ười cầu khấn. Quả nhiên bé gái hôm nọ lại đ ược Bà đạp đồng mách bảo: “Hãy chọn chín cô gái đồng trinh để đem Bà xuống núi”.

Dân làng mừng rỡ tuyển chọn chín cô gái dẫn lên núi, xin phép Bà được đưa cốt tượng xuống. Lạ thay, chín cô gái khiêng bà đi một cách nhẹ nhàng.

Xuống đến chân núi, tượng bỗng nặng trịch, các cô phải đặt xuống đất và không nhấc lên nổi nữa. Dân làng hiểu rằng Bà muốn ngự nơi đây nên tổ chức xin keo, được Bà chấp thuận và lập Miếu thờ. Hôm đó là ngày 25 tháng 4 âm lịch, dân làng lấy ngày này làm lễ vía Bà.

Lúc đầu, miếu Bà được xây dựng đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng, lưng quay về vách núi, chánh điện nhìn ra cánh đồng bát ngát. Sau nhiều lần trùng tu, miếu Bà khang trang hơn. Năm 1870, miếu được xây lại bằng đá miểng và lợp ngói, thu hút khách thập phương đến chiêm bái, tín ngưỡng.

Đến năm 1972, miếu được xây dựng mới, đồ sộ và lộng lẫy theo lối kiến trúc cổ kính phương Đông. Mái cong nhiều tầng lợp ngói xanh, tường ốp gạch men bóng láng nhập từ nước ngoài, các khung cửa bằng gỗ quí được chạm trổ hoa văn công phu, mỹ thuật. Chánh điện cao rộng, thoáng khí, vừ uy nghi vừa ấm cúng. Công trình là một quần thể hoành tráng trên mặt bằng rộng với dãy đông lang, tây lang, nhà khách…bao bọc xung quanh cũng với kiến trúc mái cong, lợp ngói xanh, theo đồ án của kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng, nhưng xây dựng dở dang. Mãi đến năm 1995, Ban Quản trị lăng miếu núi Sam mới tiếp tục xây dựng phần còn lại. Trường học được cải tạo thành nhà trưng bày đồ sộ, hài hòa với miếu.

Tượng Bà đặt giữa chánh điện, đội mão sặc sỡ, mặc áo bào thêu rồng phụng, kim tuyến lấp lánh. Khách hành hương đã dâng cúng cho Bà hàng ngàn áo mão, không sử dụng hết, có cái được may từ nước ngoài trị giá vài cây vàng.

Tượng Bà là một tác phẩm nghệ thuật tạc bằng đá son, có từ thế kỷ thứ 6. Dáng người ngồi nghĩ ngợi, khoan thai, thuộc loại tượng thần Vít-nu, có nhiều ở Ấn Độ, Lào, Campuchia. Trước kia có nhiều hình thức cúng bái mê tín như xin xăm, xin bùa, uống nước tắm Bà để trị bệnh… Ngày nay, những hủ tục đó không còn nữa. Đa số khách đến viếng thăm để dâng hương cầu tài, cầu lộc, thể hiện lòng tạ ơn Bà bằng nhiều hình thức: Cúng heo quay, cúng tiền, lễ vật lưu niệm hoặc các tiện nghi phục vụ cho miếu. Các vật lưu niệm ngày nay quá nhiều, Ban Quản trị đưa vào khu nhà lưu niệm để trưng bày. Tiền hỉ cúng hàng năm lên tới vài tỉ đồng (trong đó có vàng, đô-la). Nguồn tài chánh này ngoài việc trùng tu, xây dựng lăng, miếu còn góp phần vào nhiều công trình thủy lợi xã hội địa phương như làm đường, xây trường học, bệnh xá, đóng góp quỹ từ thiện, khuyến học…

Các lễ cúng ở miếu Bà vẫn được duy trì theo nghi thức cổ truyền. Vào lúc nửa đêm 23 rạng 24 tháng tư âm lịch, lễ tắm Bà được tiến hành khoảng hơn một giờ đồng hồ nhằm lau sạch bụi bặm sau một năm dài. Lễ được chuẩn bị từ lúc 23 giờ 30 và bắt đầu lúc 0 giờ. Các vị bô lão trong lễ phục áo dài khăn đóng lên đèn, niệm hương, dâng rượng, dâng trà… Xong phần nghi thức, khoảng 4 đến 5 phụ nữ đứng tuổi, có uy tín trong làng tiến hành việc tắm Bà. Sau khi cởi áo mão, các vị dùng nước sạch có ngâm hoa lài tỏa mùi thơm ngào ngạt để lau cốt tượng. Xong, xịt nước hoa rồi mặc áo mão mới cho Bà. Mặc dù công việc được thực hiện sau bức màn che nhưng có hàng ngàn người chen chúc nhau đến chứng kiến ngoài vòng rào chánh điện.

Lễ túc yết và lễ xây chầu được tiến hành trong đêm 25 rạng 26 tháng 4 âm lịch, đây là cuộc lễ chính trong lễ hội vía Bà. Từ đầu hôm, hàng chục ngàn người đã tụ về miếu Bà để được tham dự cuộc hành lễ này. Trước đó, hồi 15giờ cuộc lễ thỉnh sắc thần được tiến hành trọng thể trong tiếng trống lân rộn rã. Các bô lão và thanh niên trong lễ phục, xếp hai hàng dưới bóng cờ, lộng sặc sỡ, hộ tống long đình rước bài vị của ông Thoại Ngọc Hầu và hai vị phu nhân từ lăng về miếu.

Đúng 0 giờ, cuộc lễ túc yết bái bắt đầu với sự điều khiển của chánh bái và bốn đào thầy. Lễ vật dâng cúng là một con heo trắng đã cạo mổ xong và một dĩa mao huyết tượng trưng cho con heo sống cùng với các mâm xôi, ngũ quả… trong tiếng nhạc lễ và chiêng trống trỗi lên từng hồi, ông chánh bái và các đào thày dâng hương, dâng rượu, đọc văn tế, dâng trà. Lễ xây chầu được nối tiếp khi ông chánh bái cầm nhành dương vãi nước và đọc: “Nhất xái thiên thanh, nhị xái địa ninh, tam xái nhơn đường, tứ xái quỉ diệt hình” (có nghĩa là thứ nhất vãi lên trên trời xanh mong điều cao đẹp, thứ hai vãi xuống đất cho được màu mỡ, trúng mùa, thứ ba vãi loài người được trường thọ, thứ tư vãi diệt loài quỉ dữ). Xong, chánh bái ca công nổi trống ba hồi. Đoàn hát bộ trên sân khấu trong võ ca trước chánh điện đã chuẩn bị sẵn, nổi trống theo và kéo màn trình diễn.

Đến 4 giờ sáng ngày 27 tháng 4 âm lich, lễ chánh tế được tiến hành như lễ túc yết nhưng đơn giản hơn. Và 15 giờ cùng ngày đoàn thỉnh sắc làm lễ hồi sắc, đưa bài vị ông Thoại Ngọc Hầu và hai phu nhân trở về lăng, kết thúc một mùa vía.

Mắm Châu Đốc

04/12/2007

 

 

Mắm là một món ăn thuộc loại phổ biến nhất ở miền Tây. Nhưng ở Châu Đốc, mắm mới thể hiện hết sự phong phú của loại thực phẩm độc đáo này. Mắm Châu Đốc trở thành một sản phẩm “độc chiêu” của An Giang, hàng năm “móc” hàng tỉ đồng từ túi tiền của du khách.

Vào chợ Châu Đốc, khách có thể thấy đến hơn 30 loại mắm. Có loại chỉ cần thêm chút nguyên liệu là ăn liền như: mắm ruốc, mắm thái, mắm ba khía, mắm tôm, mắm tép, mắm còng. Có loại phải qua công đoạn chế biến công phu như: mắm sặt, mắm trê, mắm lóc, mắm rô, mắm trèn, mắm cá linh, mắm cá chốt, mắm chuột, mắm cá cơm, mắm cá thiểu, mắm cá lòng tong, mắm cá mè vinh, mắm cá trèn lá, mắm cá trèn mỡ, mắm cá trèn bầu...

Nhưng đến Châu Đốc, khách thường tìm mua món mắm ruột. Ban đầu, món này làm từ ruột và trứng cá lóc nên hiếm. Mắm ruột nguyên thủy là quà quý của nơi sản xuất dành cho gia đình, bạn bè cho những mối quan hệ quan trọng. Ngày nay, muốn mua mắm ruột, khách hàng phải đặt trước mới có. Mắm ruột hiện nay chỉ là thịt của mắm cá lóc xé sợi, trộn đu đủ. Mắm đỏ au, thơm lừng bày trên dĩa với thịt ba rọi xắt mỏng, tôm lõi và cá lóc đồng nướng trui đã trở thành món ăn đậm đà, giàu tính văn hóa trong ẩm thực Nam bộ. Mắm thái được làm từ cá bông, cá lóc trộn với đu đủ xanh thái sợi “bắt” cơm đến mức người ăn đã “no bụng” mà vẫn “đói con mắt”. Mắm lóc, mắm linh, mắm sặt chưng hoặc nấu lẩu, làm nước lèo thì phong phú vô hạn. Trên bàn ăn gia đình hay trong những buổi họp mặt quan trọng, món mắm bình dị của Châu Đốc chễm chệ “ngự” trên bàn ăn và có thể “đấu” với bất kỳ món “đặc sản” nào.

Tại chợ Châu Đốc cũng như các tiệm bán mắm ven đường có rất nhiều thương hiệu nhưng nổi danh nhất là thương hiệu mắm 55555 của bà giáo Khỏe, mắm bà giáo Thảo, mắm Hai Xuyến...

Chỉ mất khoảng 15.000 - 20.000 đồng cho nửa kg mắm, khách du lịch có thể mang đến cho người thân, bạn bè một niềm vui nho nhỏ sau chuyến đi. Nhiều khách hàng e ngại khi mua mắm về làm quà là mùi mắm đặc trưng có thể “lây” sang hành lý, trang phục như những người bán hàng. Tuy nhiên, ở đây cách vô bao, đóng gói của người sản xuất rất kín, kỹ lưỡng khiến nỗi e dè kia không còn là nỗi bận tâm của du khách.

 

TRANG NHẬT BÁO SGGP 12 GIỜ

 

Độc đáo đua bò Bảy Núi

SGGP:: Cập nhật ngày 10/10/2007 lúc 15:14'(GMT+7)

 

Cha con ông Hai Tấn với đôi bò đua ở Bảy Núi

  • Cả tháng nay, sinh hoạt vùng Bảy Núi chộn rộn lên hẳn, mọi người háo hức đi coi đua bò, một ngày hội dân gian độc đáo diễn ra ngay dịp lễ cổ truyền Dolta hàng năm của đồng bào Khmer. Đua bò còn hấp dẫn hàng chục ngàn du khách đến xem.

  • Cưng bò đua như... cưng vợ!

Dân nhà nghề lão luyện và người nuôi bò đua đều nói vậy. Sau trận đấu năm ngoái thì bắt đầu lo dần cho năm nay, nào là chọn lựa bò để “tập huấn” lần lần. “Hổng phải ai mần cũng được, đòi hỏi cặp mắt tinh xảo thì chọn bò mới ăn rơ”, lão tướng Chau Chiêu ở núi Cô Tô, hãnh diện nói. “Tướng tá bò phải cao ráo, sừng cong chồm tới, lông mướt một màu, bụng thon, đuôi phải ngang nhượng…, còn tuổi tác từ 5 đến 6 năm là ngon lành nhất, “tập huấn” sơ sơ có thể thi đấu liền”, ông nói thêm.

 “Chuyên gia” Hai Tấn ở Tà Lọt, núi Cấm, hồ hởi cho biết cả tháng nay ông phải “tịnh thân” để “tập huấn” đôi bò… ngôi sao số 1 vùng Bảy Núi duy trì phong độ sau 3 mùa lấy giải cao.

Sau tháng bảy Âm lịch, người nuôi bò đua vùng Bảy Núi cho bò xả hơi, cày bừa qua loa một vài giờ lấy lệ, tăng khẩu phần ăn lên gấp đôi. Đêm ngủ phải giăng mùng chống muỗi, mồng cho bò và sáng sớm dẫn đi quần sương như gà đá, rồi 8-9g đưa tới ruộng trống tập dợt, sau đó tắm rửa sạch sẽ, cho “vận động viên” mần 1 chai... La-ve và một trứng gà. “Nó sướng hơn tui nhiều. Mà cả tháng trời như vậy, chứ đâu phải một hai ngày”, Hai Tấn cười hà hà. Nhiều bữa hổng có tiền, đành cho uống sô-đa hay nước dừa tươi, không bỏ cữ nào, còn chủ ngồi ngó!

  • Người chuyên nuôi bò... mướn

Đua bò là sinh hoạt dân gian của đồng bào Khmer Bảy Núi, dần dà có thêm nông dân người Kinh tham gia. Những năm 1990, tên tuổi các ông Sáu Thường, Năm Lai, Sáu Ngẫu, Chín Tàng… nổi tiếng khắp vùng. Hiện nay, có lẽ ông Hai Tấn là người bám nghề lâu nhất chỉ có điều ông chuyên nuôi bò mướn. Ai muốn tham gia mùa giải ấp, xã, huyện và thậm chí giải toàn tỉnh đều tìm đến ông “tư vấn” coi tướng tá bò, sau đó, cho ông một ít tiền cà phê, thuốc hút; nếu cần “tập huấn” ông cũng sẵn sàng do vùng núi rừng thích hợp chăn nuôi!

“Đi coi bò giùm sau đó lãnh nuôi luôn, rồi huấn luyện nữa. Biết tánh nết hết rồi, ai chơi cho lại ông?”, tôi nói. Hai Tấn nghiêm mặt: “Đâu phải vậy. Mình mần ăn đâu ra đó. Giao bò trả về cho người ta, đưa đi đua dứt khoát giành thứ hạng cao thì anh em mới tin tưởng”. Hơn chục năm rồi, Hai Tấn rất mát tay, tung ra đôi nào thì đôi đó đều nằm ở tốp 10 (có giải thưởng), khiến người ta phải nể tay nghề. Có người tới lui riết, thấy đôi bò nhà ông khoái quá xin đổi, ông cũng đổi luôn.

  • Đua bò cũng lắm mưu mẹo!

Dân đua bò Bảy Núi đều xem cha con Hai Tấn là đối thủ lợi hại. Có lời đồn rằng, ông tìm đâu ra được “râu Ông Hổ” và đem về buộc vào cây sà-luôn (loại tre cỡ ngón tay, dài hơn 5 tấc, đầu có tra sắt nhọn, dùng đâm hông bò chạy nước rút); bí quyết độc nhất vô nhị, khiến nhiều tay em phải khiếp sợ, nhất là mỗi khi bước vào vòng hô (nước rút). Gặp ông, tôi hỏi những điều láng máng nghe được, Hai Tấn lấp lửng: “Đùa vậy mà, làm gì có”. Ông bật mí… kinh nghiệm: “Ăn thua là trước ngày hội một tháng, luyện tập thường xuyên, bồi bổ dữ dội mới được, đặc biệt là làm sao cho con bò càng dạn càng tốt và dứt khoát hổng cho ai dòm ngó chuồng trại” (?!).

Vốn nổi tiếng là người nuôi bò đua giỏi bậc nhất, nhì vùng Bảy Núi nhưng Hai Tấn chưa đào tạo cho ai bao giờ, ông đứng ra chỉ dạy sơ sài, rồi mạnh ai nấy tự luyện tập. “Chuyện này khó nói lắm, thuộc về tư chất của mỗi đứa, có bạo dạn hoặc lanh lẹ hay không nữa”, Hai Tấn bảo. Chính con  ông (Nguyễn Văn Tạo), đã 3 mùa giải mà chưa được coi là khá.

Năm nào cũng vậy, đêm trước ngày đua cứ thao thức mãi, 4g sáng đã đưa bò tới trường đua, tránh đông người chen lấn, để “vận động viên” thư thả và “tài xế” ăn uống. Bốc thăm thi đấu, đi 2 vòng hô (khởi động) giáp sân, lúc có tiếng phóng thanh hô “Chuẩn bị vòng thả. Thả…”, thì khán giả đồng hò hét “Thả, thả, thả…”. Đó là thời điểm “tài xế” trổ tài biểu diễn, đứng thẳng giựt dây vàm, vừa chồm tới đâm vào hông con bò và quơ quơ cây sà-luôn.

“Đua bò không phải chạy song song, mà một đôi trước một đôi sau, hơn thua nhau ở chỗ tài xế cầm vàm, phải lanh tay lẹ mắt và… biết mưu mẹo nữa mới thắng nổi. Chính vì vậy, nó làm người xem hổng chán, đã coi cặp trước là muốn coi tiếp cặp sau…Đã lắm”, lão tướng Chín Tàng cũng là một tên tuổi trong làng đua bò Bảy Núi, nói. Đây cũng là nét độc đáo đua bò Bảy Núi.

 

Làng Bè

 

Nếu chưa tận mắt chứng kiến, khó mà hình dung được ngôi nhà ở trên sông dài gần 30 mét, ngang trên 10 mét, gỗ sơn nhạt, trần lợp simili hoa văn tuyệt đẹp, phòng khách thoáng rộng với bộ salon trang nhã, các gian buồn tiện nghi như phòng nghỉ của khách sạn hạng sang, nhà bếp nhà ăn sạch sẽ, trong nhà có đủ ti-vi, tủ lạnh, vidéo, karaoké, xe dream, điện thoại… Ngôi nhà khang trang, sang trọng trị giá gần một tỉ đồng ấy có đáy sâu gần 5 mét bằng loại gỗ sao, bọc lưới inox để nuôi cá ba sa và một số loại các khác. Đó là một trong số hàng trăm bè cá trên sông Châu Đốc và Hậu giang, hình thành những làng nổi trù phú, thơ mộng, tạo nên một nét sinh hoạt độc đáo về văn hóa, đặc thù về kinh tế, hấp dẫn du khách và những nhà kinh doanh đến tham quan, nghiên cứu

 

Chùa Hang

 

 

Lăng Thoại Ngọc Hầu

 

 

Đồi Tức Dụp

Tức Dụp còn gọi là ngọn đồi hai triệu dô-la, một ngọn đồi giàu có nhưng đó lại là trị giá của bom đạn trong thời kỳ chiến tranh mà Mỹ cươg quyết san bằng nhưng bất lực. Tức Dụp cao khỏang 300 mét, là một ngọn đồi của vùng núi Cô tô, ngọn núi có tên khá mỹ là Phụng Hoàng Sơn, một trong những ngọn núi của dãy Thất Sơn hùng vĩ, thơ mộng hiếm hoi của miền TâyNamnước Việt. Người Khmer gọi Tức Dụp là Tức chup. Tức là nước, chup là đêm. Có lẽ ngày xưa trên đồi có dòng suối chảy triền miên ngày và đêm nên mới có tên này. Tức Dụp thuộc huyện tri Tôn tỉnh An Giang, là một ngọn đồi nhỏ nhưng địa hình hiểm trở với nhiều tảng đá dựng cheo leo, tạo thành những ảng (hang trên núi) ăn luồng nhau như tổ ong. Nhờ đặc điể ưu việt này, cộng với tinh thần kháng chiến dũng cảm và mưu trí của quân dân An Giang. Tức Dụp đã trở thành căn cứ lừng lẫy, nổi tiếng thế giới trong kháng chiến chống Mỹ. một trăm hai mươi tám ngày đêm làm bó tay quân giặc với đầy đủ lực lượng: máy bay, pháo binh, bộ binh đông như kiến cỏ ùn ùn bao ây, nhưng đều bị đánh dạt. để rồi Mỹ phải tuyên bố treo ga 2 triệu đô – la cho ngọn đồi này và chuốc lấy thảm bại. Tức Dụp là căn cứ an toàn của các đơn vị tỉnh An Giang và huyện Tri Tôn lãnh đạo cuộc kháng chiến của quân dân An Giang đi đến thắng lợi, góp phần vào đại thắng mùa xuân thống nhất đất nước. mỹ đã sử dụng những vũ khí tối tân nhất: Pháo đài bay B52, bom napal, xăng đặc, rốc-kết…, pháo đủ loại và những đơn vị tác chiến thiện nghệ nhất để bao vây và tiêu diệt đồi Tức Dụp, nhưng không thể xuyên thủng được tuyến phòng ngự kiên cố từ các lò ảng cheo loe. Dù ngọn đồi phải trọc đầu vì gánh chịu hàng ngàn tấn bom đạn, hủy diệt cả cây xanh, mầm sống, chỉ còn lại trái tim yêu nước nồng nàn của những chiến sĩ đã hun đúc sức chến đấu bền bỉ và mãnh liệt. sự sống của họ là sự sống của quê hương đất nước. Mặc dù bị bao vây trùng điệp nhưng trên đồi còn ngọn cờ Cách mạng là nhân dân còn vững niềm tin và tìm mọi cách để tiếp tế. Hòa bình, đồi Tức dụp bắt đầu trở lại màu xanh cây lá và trở thành một di tích lịch sử được Bộ Văn hóa xếp hạng, được nhiều đoàn khách trong và ngoài nước đến tham quan. Vài năm gần đây, với quang cảnh hữu tình, nằm bên cạnh ngọn núi Cô Tô cao xanh vời vợi dưới trời mây trắng, Tức Dụp lạid đón khách du lịch lũ lượt kéo về chiêm ngưỡng, chiến tích, hít hở không khí trong lành, ngắm cảnh núi non hùng vĩ…. Ngành du lịch địa phương đã xây dựng một chiếc cầu đi vòng lên đồi, du khách không còn phải leo trèo trên các gộp đá như ngày xưa nữa mà có thể thong dong đi tham quan các di tích như hang C.6, hang quân y, hang thanh niên, hội trường Tỉnh ủy… trong các lò ảng đã được bắc thang lên xuống, lót vạt bằng phẳng giúp người tham quan dễ dàng đi lại.

Nhà mồ Ba Chúc

Nhà mồ Ba chúc là một địa điểm ghi dấu tội ác man rợ của bọn diệt chủng Pôn Pốt đã xâm lược và sát hại hàng ngàn người dân Ba Chúc. Ba Chúc là một xã miền núi thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, cách biên giới Việt Nam - Campuchia 7 km, có nhiều đồng bào dân tộc Khmer sinh sống và là trung tâm của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Trong chiến tranh biên giới Tây nam, tại xã Ba Chúc bọn diệt chủng Pôn Pốt đã tập trung hàng sư đoàn đánh vào trên 30 lần, bắn hàng nghìn quả pháo vào các khu dân cư đông đúc. Chúng đi đến đâu là đốt phá nhà cửa, cướp bóc tài sả, hãm hiếp phụ nữ, giết người hàng loạt đến đó. Những thủ đoạn giết người man rợ hơn cả thời kỳ trung cổ được chúng thực hiện như: Người lớn chúng đập đầu bằng tầm vông, bằng dùi; trẻ em bị xé xác làm hai ném vào lửa hoặc thảy lên trên không rơi xuống cho chết; riêng phụ nữ, chúng hành hạ, hãm hiếp một cách tàn bạo. Qua 11 ngày lấn chiếm (từ18-4-1978đến29-4-1978), giặc đã giết hại dân lành xã Ba Chúc hơn 3.0000 người. Nhà mồ ba Chúc là di tích căm thù bọn Pôn Pốt được xây dựng trên một khoảng đất giữa hai chùa Phi Lai và Tam Bửu, cách núi Tượng (Liên Hoa Sơn) 100 mét về hướng dông. Nhà mồ có hình lục giác, mỗ trụ cột đỡ mái nhà dược kiến trúc hình tượng như bàn tay đẫm máu đang vươn thẳng lên. Bên trong nhà mồ làm một khung hộp kiếng tám cạnh, chứa đựng những bộ hài cốt gom được của người dân vô tội bị bọn diệt chủng Pôn Pốt thảm sát.

Chùa Tam Bửu

Chùa Tam Bửu xây dựng năm 1992 do ông Ngô Tự Lợi, một sĩ phu yêu nước của phong trào Cần Vương bị Pháp truy nã từ Mỹ Tho chạy về Ba Chúc, dựng chùa để che mắt địch. Chùa Tam Bửu là tổ đình của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Vào đầu năm 1978, khi bọn Pôn Pốt đánh sang, nhân dân khắp nơi trong xã chạy vào chùa trú ẩn. Ngày 13-4-1978, quân Pôn Pốt bắn phá vào hậu liêu của chùa, làm một mảng tường hư sụp, đồng bào vào trú ẩn tại đây vừa bị thương, vừa bị tường đè, tiếng kêu la thảm thiết, máu loang đầy nền chùa, làm 20 người bị thương, 40 người chết. Người chết, người bị thương nằm chồng chất lên nhau. Đến ngày 20-4-1978, bọn Pôn Pốt tràn vào chùa lần thứ hai, chúng bắt hơn 300 người đem ra ra khỏi chùa cướp hết đồ đạc rồi phân ra nam nữ. Nam đưa về hướng cánh đồng Lạc Quới, nữ về hướng kinh Năm xã, còn lại bốn người già yếu bệnh tật đi không nổi chúng lôi vào nhà khách bắn chết, sau đó đốt chùa. Riêng 700 người bị bắt chi có 2 người sống sót trở về, còn bao nhiêu chúng hành hạ, hãm hiếp phụ nữ và giết hết ngoài cánh đồng gần chùa.

Chùa Phi Lai

Chùa Phi Lai nằm đối diện chủa Tam Bửu, cách núi tượng 100 mét về hướng đông, được xây dựng vào ngày19-1-1877, do tín dồ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa dựng lên. Ngày 13-4-1978, bọn Pôn Pốt dùng pháo lớn bắn vào xã Vĩnh Gia, An Nông, Lạc quới và Ba Chúc, nhân dân quanh vùng phải chạy vào chùa Phi Lai để tránh đạn pháo. Đồng bào tin vào đình, chùa, miếu nên số người vào ẩn náu trong chùa trên 250 người. Đến ngày 20-4-1978, quân Pôn Pốt tràn vào chùa Phi Lai, chúng bắn bừa bãi vào hầm trú ẩn của nhân dân làm chết 50 người, những người sống sót chạy ra ngoài cũng bị chúng sát hại, thây nằm chồng chất quanh chùa khoảng 100 người. dưới bàn thờ Phật có 40 người ẩn trốn, chúng dùng lựu đạn ném xuống làm chết 39 người, chỉ còn một phụ nữ sống sót vì chị này ở sát trong kẹt. Hiện nay chùa còn dấu nứt sau vụ thảm sát ấy.

Bia Thọai Sơn

Bia Thoại sơn là một di tích lịch sử đã in đậm dấu ấn từ hai thế kỷ qua, do Thoại Ngọc Hầu dựng năm 1822. Thuở ấy vùng núi Sập còn hoang dã, cây rừng cỏ dại, người sống thưa thớt, các mương rạch thiên nhiên nhỏ hẹ, cỏ lau bùn đọng. Năm 1817, thọai ngọc hầu về trấn thủ Vĩnh Thanh ông chủ trương đào con kinh Đông Xuyên - Rạch Giá, đầu kinh là Ba Bần ngày nay. Được triều đình Huế chấp thuận, kinh khởi công vào năm 1818, huy động khoảng 1.500 nhân công. Kinh đào theo lạch nước cũ nên thuận lợi dễ dàng, một tháng đã hoàn thành với bề rộng 50 mét, chạy dài tới Rạch Giá, hơn 30 cây số. Con kinh này có một vị trí rất quan trọng trong việc giao thông, vận tải và phát triển nông nghiệp, nâng cao đời sống kinh tế và văn hóa của nhân dân trong vùng. Kinh đào xong, ông được triều đình khen ngợi và cho lấy tên ông đặt tên kinh là Thọai Hà. Để đánh dấu một công tình trọng đại trong cuộc đời mình, Thoại Ngọc Hầu soạn một bài văn khắc vào bia đá. Năm Minh Mạng thứ ba (1822), ông long trọng làm lễ dựng bia và khánh thành miếu thờ sơn thần tại triền núi Sập. Đầu bia đá chạm to hai chữ Thoại Sơn, chiều cao 3 mét, ngang 1,2 mét, bề dày 2 tấc, mặt bai chạm đúng 629 chữ. Bia Thoại Sơn hiện nay vẫn còn ở y vị trí ban đầu, nét chữ Hán trên mặt bia còn sắc và đẹp. Bia Thoại Sơn là một trong ba công trình di tích lịch sử loại bia ký nổt tiếng ở ViệtNamdưới chế độ phong kiến còn lưu lại đến ngày nay.

 


Nhắn tin cho tác giả
Van Thi Ghet @ 21:12 04/10/2016
Số lượt xem: 110
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến